Người lao động bị tạm giam được trả lương thế nào?

Ảnh minh họa từ Internet

Tôi làm việc tại một Công ty cổ phần. Tôi được chuyển từ biên chế nhà nước sang dạng hợp đồng không thời hạn. Vì lý do khách quan tôi bị khởi tố và tạm giam để điều tra, sau đó được tại ngoại. Trong thời gian này tôi vẫn được cơ quan trả lương.

Xin hỏi: theo chế độ trong thời gian này tôi được trả bao nhiêu phần trăm lương? Tôi có được đơn vị đóng tiền BHXH, BHYT không? Có được hưởng chế độ nghỉ phép không? Đến 60 tuổi tôi có được làm sổ hưu không (khi bị bắt tôi có thời gian công tác 26 năm)?

Nếu tôi nhận quyết định miễn truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc tòa xử trắng án thì các quyền lợi như lương, trợ cấp chức vụ, ngày nghỉ phép của tôi có được phục hồi không?

Theo qui định tại: Điều 35 và Điều 67 Bộ luật lao động; Điều 13 Nghị định 114/2002/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật lao động về tiền lương;  Điều 10 Nghị định 44/2003/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ Luật lao động về hợp đồng lao động thì người lao động bị tạm giữ, tạm giam do vi phạm có liên quan đến quan hệ lao động thì hằng tháng được người sử dụng lao động tạm ứng 50% tiền lương theo hợp đồng lao động của tháng trước liền kề, gồm tiền lương cấp bậc, chức vụ, phụ cấp khu vực, phụ cấp chức vụ (nếu có).

Người lao động bị tạm giữ, tạm giam do vi phạm có liên quan đến quan hệ lao động sẽ được hiểu là trong quá khi thực Hợp đồng lao động mà người lao động vi phạm đến các quan hệ lao động như vi phạm nội qui, trộm cắp tài sản của người sử dụng lao động….mà bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bị tạm giữ, tạm giam để phục vụ điều tra thì mới được tạm ứng. Trong trường hợp việc vi phạm và bị tạm giữ, tạm giam ngoài quan hệ lao động xã hội như trường hợp không phải khi làm việc theo hợp đồng, không trong thời gian làm việc, các vấn đề liên quan đến cá nhân khác ngoài đơn vị, tổ chức người lao động làm việc và được hiểu rằng công việc đó không phục vụ đến công việc hoặc quan hệ lao động, người lao động không được hưởng lương vì công việc đó thì theo khoản 3 Nghị định 114/2002/NĐ-CP thì khi người lao động bị tạm giữ, tạm giam do vi phạm không liên quan đến quan hệ lao động thì người sử dụng lao động không phải tạm ứng tiền lương cho người lao động.

sẽ không được tạm ứng tiền lương theo qui định.

Khi hết hạn tạm giữ, tạm giam, nếu do lỗi của người sử dụng lao động thì người sử dụng lao động phải nhận người lao động trở lại làm việc, trả đầy đủ tiền lương theo Hợp đồng lao động và đóng BHXH theo qui định của pháp luật cho người lao động; nếu do lỗi của cơ quan tiến hành tố tụng thì cơ quan này phải hoàn trả cho người sử dụng lao động số tiền lương tạm ứng cho người lao động và số tiền lương còn lại, tiền đóng BHXH trong thời gian họ bị tạm giữ, tạm giam theo mức lương ghi trong hợp đồng lao động.

Trường hợp người lao động phạm pháp nhưng được miễn tố hoặc không bị tù giam hoặc không bị tòa án cấm làm công việc cũ, tùy theo mức độ vi phạm, người sử dụng lao động sẽ bố trí cho họ làm việc cũ hoặc sắp xếp công việc mới.

Theo khoản 1 điều 145 Bộ luật lao động và khoản 1 Điều 50 Luật BHXH, người lao động được hưởng lương hưu khi nghỉ việc đối với nam từ đủ 60 tuổi, nữ từ đủ 55 tuổi đã có đủ 20 năm đóng BHXH trở lên. Nếu người lao động đã đóng BHXH đủ 20 năm trở lên thì khi đủ tuổi nghỉ hưu, bạn vẫn được hưởng chế độ hưu trí theo qui định pháp luật.

Advertisements
%d bloggers like this: